Thách Thức Ngành Ngân Hàng Năm 2020 (P1)

#1
I - Tổng Quan Ngành Ngân Hàng

Trong năm 2020 ngành ngân hàng sẽ khó cạnh tranh nhưng chúng tôi nhận định vẫn còn nhiều tiềm năng tăng trưởng
Trước những chính sách điều hành, can thiệp của Ngân hàng Nhà nước để điều tiết thị trường, 2019 có thể nói là một năm bình ổn đối với ngành ngân hàng, thậm chí còn có xu hướng tốt lên khi các ngân hàng công bố số liệu kết quả kinh doanh đều khả quan.
Lợi nhuận trung bình ngành so với ngành khác sé là thách thức chung của các ngân hàng năm 2020.
Chính sách chung tiền tệ sẽ đến từ “room tín dụng eo hẹp”, nhưng nhiều NH tiếp tục có triển vọng tăng trưởng cao, nhất là các NH đã đáp ứng tiêu chuẩn Basel II hoặc hệ số an toàn theo Thông tư 22.
Chất lượng tài sản được cải thiện
Hiện tại, có 18 ngân hàng trong nước đã áp dụng thành công tiêu chuẩn Basel II trước hạn. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) được cải thiện, đạt mức 12%.
Tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn ngành ngân hàng năm 2019 vào khoảng 1,8%, nếu tính cả nợ xấu tiềm ẩn (nợ tại VAMC) thì tỷ lệ nợ xấu là hơn 3,3%.
Nhiều ngân hàng đã và đang duy trì chính sách trích lập dự phòng ở mức cao, đảm bảo phòng ngừa rủi ro trong trường hợp thị trường biến động.
Bên cạnh đó, để đáp ứng quy định về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tại Thông tư 22 số 22/2019/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng đã chủ động giảm tỷ trọng cho vay vào các ngành rủi ro (bất động sản, xây dựng…), tăng cường huy động vốn dài hạn, nâng cao chất lượng tín dụng. Vì vậy, chất lượng tài sản của các ngân hàng đã và đang được cải thiện.
Hoạt động huy động vốn: Lãi suất dự báo giảm nhẹ
Lãi suất huy động nhiều khả năng sẽ có xu hướng giảm nhẹ từ 0,3 - 0,5%/năm do các nguyên nhân như để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng, với mục tiêu giảm lãi suất cho vay.
Trong khi đó, các ngân hàng đang trong giai đoạn tái cơ cấu, áp dụng tiêu chuẩn Basel II, nên tăng trưởng tín dụng sẽ theo hướng thận trọng hơn.
Tuy nhiên, dự báo lãi suất huy động các kỳ hạn dài nhiều khả năng sẽ tăng trở lại vào tháng 10 - 11/2020 do áp lực lạm phát có thể tăng vào thời điểm cuối năm, cũng như quy định mới về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (SML) bắt đầu được áp dụng vào cuối quý III/2020.
Với việc tăng cường áp dụng các dịch vụ gia tăng trong hệ thống ngân hàng, cũng như sự phát triển của các kênh thanh toán không dùng tiền mặt - fintech (ví điện tử, ngân hàng số), người gửi tiền sẽ sử dụng nhiều hơn các dịch vụ.
Hoạt động cho vay: Nâng cao chất lượng và hiệu quả
Trước hết, với việc các ngân hàng áp dụng Basel II và sự ra đời của Thông tư 22 nhằm siết chặt hơn chất lượng tài sản của hệ thống, dự báo tăng trưởng tín dụng toàn ngành sẽ ở mức thấp hơn các năm trước, dự kiến khoảng 12 - 13%.
Tuy nhiên, dòng vốn tín dụng vô hình trung sẽ hướng đến những ngành nghề ưu tiên và sản xuất.
Tăng trưởng tín dụng sẽ tập trung phần lớn vào các ngân hàng đã đáp ứng Basel II hoặc đáp ứng được hệ số an toàn theo Thông tư 22.
Với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng sẽ cao và doanh thu từ phí gia tăng (ngoại trừ VietinBank do áp lực về thiếu vốn).
Dự báo, tỷ lệ cho vay ngắn hạn ở nhóm này sẽ tiếp tục được gia tăng trong danh mục tín dụng với lãi suất từ 6 - 8%/năm.
Với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, có nhiều cơ hội gia tăng tín dụng nhờ trần hệ số huy động/cho vay (LDR) được tăng từ 80% lên 85% và nhóm này sẽ tối ưu hóa hiệu quả bằng việc phân bổ lại tài sản theo quy định của Basel II nhằm gia tăng lợi nhuận trong điều kiện khó nâng vốn.
Các tổ chức tín dụng đã đáp ứng chuẩn Basel II có ưu thế hơn trong việc được cấp hạn mức tín dụng.
Những ngân hàng còn lại có nhu cầu tăng vốn lớn để đảm bảo các tỷ lệ an toàn. Trong đó, một số ngân hàng gặp khó khăn trong vấn đề tăng vốn sẽ bị ảnh hưởng ở tốc độ tăng trưởng tín dụng và thu nhập từ lãi trong năm 2020.
Picture1.png
Quy định về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.
Lãi suất cho vay dự báo sẽ khó giảm ở các kỳ hạn dài, tức là các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất, xây dựng cơ bản, cần huy động vốn trung và dài hạn sẽ duy trì ở mức hiện tại.
Thách thức chung của các ngân hàng năm 2020 sẽ đến từ “room tín dụng eo hẹp”. Với những ngân hàng có các thị trường riêng, dự báo duy trì đà tăng trưởng tốt, thì luôn mong muốn được nới room tín dụng ngay từ giữa năm (kế hoạch tín dụng thường cao hơn room được giao ban đầu) và sẽ chủ động hướng đến các mảng dành cho đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ và nhóm bán lẻ.
Tăng trưởng thu nhập từ thu nhập ngoài lãi của ngân hàng đến từ dư địa của kênh bancassurance, thu phí dịch vụ ngân hàng và chiến lược đẩy mạnh ngân hàng bán lẻ, ngân hàng số.
Nhiều ngân hàng có thể sẽ hợp tác bancassurance độc quyền và ghi nhận khoản lợi nhuận bất thường lớn trong thời gian tới như VCB, ACB, TPB, VIB...
Các ngân hàng cũng có thể tập trung giảm tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) dựa trên cơ sở giảm lãi suất cho vay.
Các ngân hàng cũng đang đẩy mạnh triển khai số hoá quy trình nghiệp vụ ngân hàng để tiết giảm chi phí đầu tư cho nhân sự, marketing.
Kết quả kinh doanh theo đó diễn biến có lợi với các ngân hàng đã đáp ứng các tỷ lệ an toàn hoạt động.
Với các ngân hàng đã đảm bảo được các tỷ lệ an toàn hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao sẽ là bàn đạp cho tăng trưởng, trong khi chất lượng tài sản tốt giúp giảm trích lập dự phòng rủi ro nhưng vẫn có thể duy trì tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu (LLR) ở mức cao.
Ðể tăng vốn đáp ứng Basel II, huy động vốn từ nhà đầu tư nước ngoài là một nguồn huy động hỗ trợ đáng kể việc tăng vốn và tái cấu trúc hoạt động của ngân hàng.
Bên cạnh đó, một kênh huy động vốn khác mà các ngân hàng có thể cân nhắc là phát hành trái phiếu tăng vốn, giúp gia tăng vốn tự có cấp 2.
Nhu cầu về phát hành trái phiếu tiếp tục gia tăng
Nhu cầu phát hành trái phiếu ngân hàng dự kiến tiếp tục gia tăng do việc áp dụng các quy định mới của Ngân hàng Nhà nước về đảm bảo các chỉ số an toàn vốn và thanh khoản, tận dụng được nguồn vốn thị trường 2 (thị trường liên ngân hàng) dồi dào, huy động với lãi suất thấp.
Nếu thanh khoản thị trường dồi dào thì các ngân hàng sẽ rất thuận lợi trong việc phát hành trái phiếu.
Một xu hướng mới trong việc phát hành trái phiếu ở nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần là phát hành trái phiếu quốc tế, với kỳ hạn dài, thay thế kênh huy động từ thị trường trong nước. Tuy nhiên, chi phí vốn ở kênh này nhiều khả năng cao hơn so với huy động trong nước.
Do vậy, tỷ lệ huy động trái phiếu quốc tế được dự báo là không đáng kể, chủ yếu là một sản phẩm bước đầu để tiếp cận thị trường vốn thế giới và tạo ra một kênh huy động thay thế các kênh truyền thống khi thị trường khó khăn.
Capture.JPG
II - Cơ Cấu Hoạt Động Kinh Doanh Của Các Ngân Hàng
  • Cơ cấu vốn trên dư nợ cho vay (%)
Một số NH có cơ cấu dư nợ cho vay
Capture14.JPG
  • Chất lượng tài sản của NH (%)
Chất lượng tài sản của các ngân hàng cũng được cải thiện đáng kể
Capture17.JPG
  • Cơ cấu nguồn thu nhập (%)
Thu nhập lãi thuần: sẽ cho thu nhập ổn định
Thu từ dv: tốt cơ cấu sẽ ít rủi ro
Thu từ ngoại hối: tùy vào chính sách của nhà nước và mỗi ngân hàng có hoạt động XNK
Thu từ CK: nguồn thu ko ổn định rủi ro cao
Thu từ HĐ khác: Xem lại nguồn thu trong khoảng thời gian có đều không, và nguồn thu này từ cái gì, nếu từ thu nợ xấu thì là tốt
Capture1.JPG

  • Tỷ lệ CASA(%)
(tiền gửi không kỳ hạn trên tổng nguồn huy động vốn)
Đánh giá nguyên liệu đầu vào thấp hay cao
Capture2.JPG

  • Tỷ lệ Lãi Biên NIM(%)
Đánh giá xem ngân hàng nào có nguồn thu nhập cao, tuy nhiên khẩu vị của mỗi ngân hàng mỗi khác
Cao chưa chắc là tốt, thấp chưa chắc là xấu, xem lại kiểm soát và cân đối giữa nợ xấu và Nim
Capture3.JPG

  • Tỷ Lệ Nợ Xấu NPL(%)
Đánh giá những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu
Capture4.JPG

  • Tỷ Lệ Nợ Xấu NPL(%) và Tỷ Lệ Trích Lập Bao Nợ Xấu LLR(%)
Cân đối giữa nợ xấu và trích lập dự phòng cho nợ xấu
Capture5.JPG

Còn Tiếp Phần 2
 

Đính kèm

Sửa lần cuối:

ame

New member
#2
Bài phân tích nhiều thông tin hữu ích quá.
Ad cho hỏi, chính sách nới lỏng tiền tệ cụ thể là ntn và chính sách này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các ngành khác nói riêng, các chính sách hệ lụy, được mất của xã hội nói chung ạ?
 
#3
Cám ơn câu hỏi của ac !!!
Để duy trì đà tăng trưởng của nền kinh tế với GDP 6,8% thì chính sách tiền tệ rất quan trọng. NHNN đã có động thái hạ lãi xuất tín dụng cuối năm 2019, và vẫn duy trì nới lỏng tiền tệ liên tục trong nhiều năm gần đây. Tỷ lệ cung tiền/GDP và tín dụng/GDP đã tăng lần lượt từ khoảng 110% trong năm 2013, lên tới 170% hiện nay.
Chính sách ưu đãi của NHNN vẫn tập trung vào nhóm ngành sx, nông nghiệp sach, xnk....
Việc nới nỏng tiền tệ vãn còn những mối lo ngại nhất định về lạm phát, điển hình chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1/2020 tăng 1,23% so với tháng 12/2019 và tăng 6,43% so với tháng 1/2019.
 

ame

New member
#5
Cám ơn câu hỏi của ac !!!
Để duy trì đà tăng trưởng của nền kinh tế với GDP 6,8% thì chính sách tiền tệ rất quan trọng. NHNN đã có động thái hạ lãi xuất tín dụng cuối năm 2019, và vẫn duy trì nới lỏng tiền tệ liên tục trong nhiều năm gần đây. Tỷ lệ cung tiền/GDP và tín dụng/GDP đã tăng lần lượt từ khoảng 110% trong năm 2013, lên tới 170% hiện nay.
Chính sách ưu đãi của NHNN vẫn tập trung vào nhóm ngành sx, nông nghiệp sach, xnk....
Việc nới nỏng tiền tệ vãn còn những mối lo ngại nhất định về lạm phát, điển hình chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1/2020 tăng 1,23% so với tháng 12/2019 và tăng 6,43% so với tháng 1/2019.
Thanks ad!!!
 
#6
Em thấy cứ giai đoạn kinh tế chuẩn bị suy thoái thì tiền càng đẩy ra nhiều, lãi suất liên ngân hàng lại thấp đi, như kiểu nới lỏng ra. Không biết có đúng không!. Bác giải thích dùm